LONG LANH ĐIỂM TỰA



LONG LANH ĐIỂM TỰA

Năm lần địch mò lên!
Cả năm lần điểm tựa nhòe khói đạn
Khi khói tan
Chiến hào đen xạm
Điểm tựa vẫn còn nguyên.

Phía trong hầm vẫn ngời lên ánh sáng
Lá Đảng kỳ trang nghiêm
Xạ thủ B40-xạ thủ trung liên
Hai đoàn viên đứng thề trước Đảng
Lễ kết nạp qua năm lần gián đoạn
Năm lần địch mò lên!

Năm lần cái chết kề bên
Năm lần vàng đem thử lửa
Cả năm lần âm vang lời hứa
Lấp át đi tiếng pháo địch gầm.

Hai đoàn viên trưởng thành hai đảng viên
Chi bộ nhân thêm phần mạnh
Góc chiến hào thêm hào quang lấp lánh
Nòng súng ngời ánh thép thêm xanh
Cả điểm tựa bừng lên: long lanh.


Tản mạn


                     TẢN MẠN VỚI NHÀ THƠ TRẦN ĐỖ LIÊM 

      Nói đến Trần Đỗ Liêm, có người nghĩ “hình như, có lẽ”, anh có thuật “phân thân”, lúc làm nhà văn, lúc nhà báo, lúc nhà thơ và là một nhà doanh nghiệp. Điều đáng nói là với “nhà nào”, Trần Đỗ Liêm cũng có thế mạnh riêng và thường để lại những dấu ấn khó phai mờ. Là một trong những người lập đề án thành lập HTX Rạch Gầm năm 1979, lên làm Chủ nhiệm từ năm 1984 đến nay, anh đã lèo lái con thuyền Rạch Gầm lướt sóng băng băng, vượt qua không biết bao nhiêu khó khăn, gian nan, thử thách. Trong khi nhiều HTX tan rã, thì Rạch Gầm không ngừng phát triển, vươn lên, trở thành một HTX đa ngành nghề với nhiều loại hình dịch vụ kinh doanh, sản xuất, quản lý theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001-2000.
      - Dấu ấn trong cuộc đời làm doanh nghiệp của anh? Tôi hỏi.
      Anh trầm ngâm: - Là những lần vượt qua khó khăn, thử thách, có lúc tưởng chừng như không thể vượt qua nổi. Là lúc HTX vinh dự đón nhận danh hiệu Anh hùng Lao động trong thời kỳ đổi mới. Và giờ đây, HTX lại vinh dự được Nhà nước trao tặng Huân chương Độc lập hạng ba. Nhân dịp tết cổ truyền của dân tộc năm 2006, HTX Rạch Gầm là một trong 40 doanh nghiệp tiêu biểu xuất sắc nhất của cả nước, vinh dự được Chủ tịch nước mời về Phủ Chủ tịch chiêu đãi và tặng qùa lưu niệm.
      - Có người nói anh là con người của công việc và thơ văn, anh nghĩ sao?
      Anh cười: - Có lẽ vậy! Ngoài hai tập thơ in chung: “Khúc điệu sông Tiền” và “Những nẻo đường thơ”, tôi đã xuất bản tập thơ của riêng mình: “Đi dọc Việt Nam”. Hầu hết những bài thơ của tôi đều viết về cảnh đẹp thiên nhiên, nước non, sông núi mà tôi từng cảm hứng trong lúc đi làm công việc. Thậm chí có lúc công việc bộn bề, đầu óc căng thẳng thì nàng thơ bất chợt đến, đó cũng là lúc tôi thả mình thư giản với nàng thơ. Và kỳ diệu thay, đầu óc của tôi trở nên minh mẫn, thư thái một cách lạ lùng, công việc nhờ thế trở nên trôi chảy.
      Mặc dù công việc là nhiệm vụ hàng đầu, nhưng với Trần Đỗ Liêm,  hình như công việc và thơ văn, báo chí đã hòa quyện vào nhau. Cảm nhận tinh tế, nhận thức sâu sắc, từ những thuận lợi, khó khăn trong công việc hàng ngày, anh đã có những bài báo phản ánh một cách trung thực, khách quan về qúa trình xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa xã hội; qúa trình đổi mới, hội nhập của tỉnh nhà và đề ra được những biện pháp thiết thực. Không những vậy, anh còn là chủ nhân của nhiều công trình khoa học đã được công nhận, trong đó phải kể đến công trình “Lợi dụng dòng chảy của sông do tác động của thủy triều để tiết kiệm nhiên liệu và tăng vận tốc của phương tiện”.
      Gần 30 năm gắn bó với nghề sông nước, Trần Đỗ Liêm đã ra mắt bạn đọc 2 tập truyện ký: “Con người và sông nước Cửu Long” và “Nỗi niềm sông nước” mang đậm chất phù sa và bản tính thật thà, chân chất, hào phóng của con người Nam Bộ. Mới đây, trong chuyến sang thăm Ấn Độ, vừa về, anh đã cảm hứng sáng tác một chùm thơ lục bát mang tựa đề: “Nhật ký hành hương”. Chùm thơ gồm 7 bài, trong đó có 4 bài (tứ đồng tâm) Trần Đỗ Liêm viết về “Nơi Phật sinh-Nơi Phật đắc đạo-Nơi Phật giảng đạo lần đầu tiên và Nơi Phật niết bàn”. Ý thơ tao nhã, lời thơ mượt mà, nhiều câu sử dụng “điển tích, ngôn từ nhà Phật” đầy tính hướng thiện, nhân văn. Nhân dịp HTX Rạch Gầm vinh dự đón nhận Huân chương Độc lập hạng ba của Chủ tịch nước trao tặng, xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc một chút tài ba của ông Chủ nhiệm.   
                                                                           ANH ĐẬU
  


NHÂN DỊP KHAI TRƯƠNG VƯỜN THƠ BIỆT THỰ HOA MAI


      Nhân dịp nhà thơ Trần Đỗ Liêm khai trương Vườn thơ biệt thự Hoa Mai, tôi muốn giới thiệu với bạn bè gần xa vài nét về anh qua bài viết sau, hy vọng bạn bè sẽ hiểu về anh hơn, để cùng chia sẽ.
 

              CHUYỆN VỀ MỘT ÔNG CHỦ NHIỆM
 

      Đã có không ít người, kể cả tôi, cứ cắc cớ hỏi: “HTX Rạch Gầm lớn như vậy, vốn tài sản hơn trăm tỉ đồng, hoạt động sản xuất, kinh doanh, vận tải rộng khắp, đa ngành nghề, sao không chuyển thành công ty hay tổng công ty để lên chức giám đốc, tổng giám đốc cho oai, lại cứ phải làm cái anh chủ nhiệm, nghe có vẻ bé nhỏ qúa!?”. Anh Trần Đỗ Liêm chỉ cười: “Cái danh thôi mà! Đúng là ở ngoài đời, danh từ giám đốc nghe oai thiệt, nhưng cốt lõi của vấn đề lại chính là hiệu qủa kinh tế. HTX Rạch Gầm sống được, tồn tại được và phát triển lớn mạnh như bây giờ, chính là nhờ vào hiệu qủa kinh tế, chớ không phải là cái chức danh nào cả. Thiệt tình thì, cở giám đốc công ty TNHH hoặc doanh nghiệp nhỏ, cũng chỉ tương đương với một số xã viên của HTX đang là Đoàn trưởng của một Đoàn vận tải hay Đội trưởng của một Xí nghiệp sản xuất, kinh doanh của HTX mà thôi. Dẫu rằng, HTX Rạch Gầm đang hướng tới xây dựng trong tương lai một “Tập đoàn kinh tế”, thì lúc đó người đứng đầu sẽ rớt chức xuống thành “ông Tập đoàn trưởng Tập đoàn kinh tế Rạch Gầm”, chứ sao! Làm anh chủ nhiệm như mình cũng là oai lắm rồi”.
      Chủ nhiệm Trần Đỗ Liêm rất khiêm tốn, dí dõm, bình dị, nếu không quen biết, mới gặp lần đầu khó có thể biết anh đang là người đứng đầu lãnh đạo một đơn vị sản xuất, kinh doanh, vận tải lớn có tiếng, với tổng tài sản trị giá 115 tỉ đồng, tổng doanh thu năm 2004 đạt 138 tỉ đồng. Chỉ tính riêng lĩnh vực vận tải, HTX Rạch Gầm là một đơn vị vận tải đường sông có số phương tiện vận chuyển và trọng tải đứng đầu cả nước: với 209 đầu phương tiện, tổng trọng tải 51.200 tấn, tổng công suất 35.600 CV, hàng năm vận chuyển một khối lượng hàng hóa khoảng 137.000.000tấn/km. Đó là chưa kể đến HTX Rạch Gầm còn kinh doanh xăng dầu, vật liệu xây dựng; sản xuất dầu nhờn, phân bón hữu cơ; thiết kế, đóng mới, sửa chữa tàu thuyền, sà lan; san lấp mặt bằng, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, công trình giao thông, thủy lợi… và đang hướng tới tổ chức dịch vụ du lịch lữ hành cùng nhiều dịch vụ kinh doanh khác.
      Tiếng tăm của HTX Rạch Gầm nổi như cồn, uy tín không chỉ lan truyền trong khu vực ĐBSCL mà còn lan xa trong cả nước. Thành tích của HTX đáng nể sợ, ngoài những bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Giao thông Vận tải, Cục Đường sông, Hội đồng Liên minh HTXVN, Ủy ban ATGT Quốc gia, của UBND tỉnh Tiền Giang…HTX đã giành trọn bộ Huân chương Lao động hạng nhất, nhì, ba do Chủ tịch nước khen tặng. Và năm 2005, HTX Rạch Gầm đã được Hội đồng Thi đua khen thưởng tỉnh đề nghị Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động trong thời kỳ đổi mới. Nói đến thành tích của tập thể, không thể không nhắc tới vai trò lãnh đạo và công sức của ông chủ nhiệm.
      Từng lăn lộn trên đường Trường Sơn những năm tháng chiến tranh, trong vai trò của người TNXP, sau 5 năm chiến đấu và phục vụ chiến đấu, năm 1973, Trần Đỗ Liêm được cử đi học tại trường Trung học Giao thông đường thủy. Tháng 4-1979, HTX Vận tải Rạch Gầm được thành lập, đang công tác tại Sở GTVT Tiền Giang, Trần Đỗ Liêm được điều về làm Phó Chủ nhiệm. Năm 1984, Trần Đỗ Liêm được bầu làm Chủ nhiệm HTX. Từ đó đến nay, trải qua 5 kỳ đại hội, Trần Đỗ Liêm luôn được xã viên tín nhiệm bầu giữ chức Chủ nhiệm. Năm nhiệm kỳ luôn giữ được uy tín với xã viên qủa là một kỷ lục khó có nhiều người đạt được. Điều gì đã giúp Trần Đỗ Liêm đạt được kỷ lục này? Hỏi anh, anh lại cười: “Thì uy tín chớ còn gì nữa. Mà muốn được xã viên tín nhiệm thì mình phải nỗ lực phấn đấu, vậy thôi”. Phấn đấu của Trần Đỗ Liêm cũng đáng được nể phục. Từ một anh cán bộ trung cấp, Trần Đỗ Liêm không ngừng phấn đấu, học hỏi, trau dồi kiến thức KHKT cũng như trình độ quản lý về kinh tế, nghiệp vụ. Năm 1988, anh tốt nghiệp kỹ sư đại học Hàng hải và sau đó lần lượt hoàn thành 6 chứng chỉ Cao học tại trường đại học Kinh tế TPHCM, đồng thời tốt nghiệp khóa Giám đốc Doanh nghiệp tại trường Cán bộ Quản lý Vận tải và nhiều lớp bồi dưỡng nghiệp vụ khác.
      Tâm sự về cuộc đời làm chủ nhiệm HTX hơn hai mươi mấy năm của mình, anh Trần Đỗ Liêm bồi hồi nhớ lại: “Ngay từ lúc mới thành lập, HTX chỉ có 29 ghe vỏ gỗ, 32 đò khách, khoảng 100 xã viên, 8 cán bộ, 1 máy điện thoại, 1 máy đánh chữ, 1 gian nhà vỏn vẹn 16m2, 1 bến đậu bên bờ sông Tiền. Mọi thứ đều mới mẻ, thời bao cấp, thiếu thốn mọi bề, nhưng vì là đơn vị Vận tải chủ lực Đường sông của tỉnh, nên phải vận chuyển một khối lượng hàng hóa khổng lồ. Tất cả đều phải làm theo kế hoạch, mệnh lệnh. Trên giao hàng, cung cấp nhiên liệu cứ thế mà làm, nhiều lúc điều hành muốn bở hơi tai. Khó ai có thể ngờ rằng, đội thuyền của HTX Rạch Gầm hàng tháng trời đội gió, dầm mưa, đi suốt ngày đêm để vận chuyển hàng trăm ngàn tấn vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm, vượt hàng trăm km đường phục vụ cho chiến trường biên giới Tây Nam và trung chuyển lương thực ra miền Bắc. Và chưa có một HTX nào được vinh dự như HTX Vận tải Rạch Gầm được Bộ Chính trị, Bộ GTVT chủ trì hội nghị, mời họp giao ban để bàn về nhiệm vụ vận tải phục vụ chiến đấu và xây dựng đất nước. Với những nỗ lực, cố gắng của tập thể cán bộ, xã viên, nên vừa mới thành lập được hơn 1 năm, HTX Rạch Gầm đã được Cục Đường sông tặng cờ Đơn vị xuất sắc nhất.
      Trong cuộc đời làm Chủ nhiệm HTX, có lẽ tôi không bao giờ quên những năm đầu xóa bao cấp. Mọi thứ đều đảo lộn, nguồn cung cấp của trên không còn, HTX phải tự độc lập hạch toán kinh tế; cân đối thu, chi. Phải tự tìm ra khách hàng, nguồn hàng; tự tổ chức sắp xếp kế hoạch, phân bố, điều hành lực lượng; tự lo cho đời sống cán bộ, xã viên. Hàng chục phương tiện, hàng trăm con người đều trông chờ vào sự lèo lái của Ban Chủ nhiệm. Tài sản, nguồn vốn của HTX đều do xã viên đóng góp, làm ăn không hiệu qủa là các chủ phương tiện tự động làm đơn xin ra. Cái nguy cơ tan rã HTX cứ lơ lững treo trên đầu. Có thể ông không tin, chứ tôi đã bạc đầu vì những đêm không ngủ. Trong đêm, tôi cứ trăn trở hoài, trăn trở để tìm ra con đường sống cho HTX, cho hàng trăm xã viên. Tôi còn nhớ có bài thơ viết về anh chủ nhiệm: “Có những mùa nắng cháy đồng khô cạn/ Mười bậc nước leo lên ruộng hạn/ Có những mùa lúa chín lụt tràn qua/ lại phải nghiêng đồng hắt đổ ra/ Người nhiều ruộng ít, trâu bò ít/ Chạy ngược, chạy xuôi chân rối rít/ Ngoài ba mươi tuổi máu đương sôi/ Anh chẳng khoanh tay đứng chịu trời…Có những đêm nằm nghĩ cảnh gieo neo/ Vợ yếu, con đông chưa hết nghèo/ Nhưng rồi nghĩ lại đường đi tới/ Nước nổi lo chi bèo chẳng nổi/ Lại lao vào công việc say sưa/ Hết sớm thôi chiều nắng lại mưa/Ơi anh chủ nhiệm! Anh chủ nhiệm”. Qủa thực, tình cảnh của tôi lúc đó cũng giống y chang như vậy. Xóa bao cấp, nhưng cơ chế lúc bấy giờ chưa thoáng. Anh làm vận tải chỉ được phép vận chuyển, lấn sân sang công việc khác là không có được, là điều cấm kỵ, là bị kỷ luật. Thời bấy giờ, một khách hàng cần một khối lượng đá để làm đường phải ký đến 5 hợp đồng với 5 đơn vị: Hợp đồng mua đá, thuê xe chở ra bờ sông, bốc xếp, thuê ghe, thuê xe chở ra công trường. Nhiêu khê lắm, vừa lãng phí thời gian chờ đợi sự kết hợp giữa các đơn vị, vừa chậm tiến độ thi công, vừa tốn kém những khoản tiền đi quan hệ, chạy tới chạy lui  không cần thiết. Vậy là sáng kiến “bốc xếp chui” được ra đời và áp dụng. “Chui”  là vì không đúng chức năng, sai chính sách. Tiếp theo là sáng kiến “mua hộ” vì  HTX chỉ được phép vận chuyển chớ không được kinh doanh. Cứ như vậy, từng bước HTX đã hoàn thành các công đoạn “chui” tiếp theo cho đến khi khách hàng chỉ cần ký 1 hợp đồng duy nhất là hàng về đến nơi cần đến. Đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, thời gian nhanh, thủ tục gọn nhẹ, chi phí giảm, uy tín của HTX không ngừng được nâng cao. Vì vậy, trong khi hàng ngàn HTX trong cả nước bị tan rã thì HTX Rạch Gầm vẫn vững tay chèo lướt sóng đi lên”.
      Năng động và sáng tạo, biết tập hợp sức mạnh của xã viên, biết phát huy vòng quay của đồng vốn, biết “làm cho xã viên giàu có thì HTX mới giàu mạnh”, ông chủ nhiệm đã phấn đấu hết sức mình. Gặp gỡ những xã viên của HTX, tôi mới biết vì sao 5 nhiệm kỳ liền, Trần Đỗ Liêm luôn được xã viên tín nhiệm. Anh Nguyễn Văn Năm, Đội trưởng Đội 4 bộc bạch: “Nhà tôi ba đời gắn bó với HTX, ông gìa tôi là Nguyễn Văn Tỏ ban đầu chỉ có 1 ghe vỏ gỗ trọng tải 140 tấn, nhờ HTX, nhờ ông chủ nhiệm, cho đến hiện nay hai con tôi đã là chủ sở hữu của 2 chiếc sàlan, mỗi chiếc trọng tải 500tấn. Ngày xưa, có nằm mơ, gia đình tôi cũng không dám nghĩ tới”.
      Không chỉ riêng gia đình anh Năm, lực lượng của HTX Rạch Gầm hầu hết là con em của các xã viên nối nhau hai, ba đời gắn bó với HTX. Nhiều gia đình nhờ được sự giúp đỡ của HTX đứng ra bảo lãnh vay vốn ngân hàng, đổi mới phương tiện, cùng giúp đỡ nhau, phát triển theo hình thức chuỗi rễ, ông bà, cha con, dâu rễ, anh em, bà con cùng làm giàu một cách chính đáng. Từ 100 xã viên ban đầu, đến nay HTX đã tạo công ăn, việc làm cho khoảng 800 xã viên và hàng ngàn lao động chuyên và không chuyên, dài hạn và hợp đồng.
      Chuyển sang cơ chế thị trường, Trần Đỗ Liêm nhận biết được hướng đi mới. Hàng loạt ghe thuyền vỏ gỗ nhanh chóng được chuyển đổi sang sàlan vỏ sắt, trọng tải, công suất vượt trội, có khả năng vận chuyển bất cứ loại hàng hóa nào, trong mọi thời tiết. Các công đoạn bốc dỡ, vận chuyển bộ đều được cơ giới hóa. Nhiều ngành nghề, dịch vụ được mở ra. Kho trạm, xưởng sản xuất, chế biến từng bước được hoàn thành và đi vào hoạt động. Đồng vốn của xã viên góp vào được đầu tư vào các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông, thủy lợi và nhiều dịch vụ khác. Chiến lược con người được Trần Đỗ Liêm tính toán từ lâu, hàng chục xã viên trẻ khỏe, lớp thế hệ thứ 2, thứ 3 của HTX nay đều có trong tay các bằng cấp chuyên môn thuyền trưởng, máy trưởng bậc 1, bậc 2. Nâng cao uy tín, HTX Rạch gầm đang từng bước hoàn thành thương hiệu của mình với tiêu chuẩn quốc tế, với khẩu hiệu sản phẩm và dịch vụ đạt chuẩn ISO 9001-2000.
      Bật mí thêm một chút, Trần Đỗ Liêm không chỉ là một nhà kinh tế, mà còn là một nhà thơ, nhà báo, nhà văn và là nhà từ thiện. Thơ của Trần Đỗ Liêm đã được in thành sách, hồn thơ mượt mà, giàu chất dân ca, lục bát. Cuộc đời gắn bó với sông nước đã giúp cho Trần Đỗ Liêm để cho đời mấy tập ký nặng chất phù sa miền sông nước Cửu Long. Anh là nhà tài trợ cho Đặc san trẻ TG, là người đề xướng với HTX nhận phụng dưỡng suốt đời 2 mẹ VNAH và trích từ qũy HTX xây dựng 10 căn nhà tình nghĩa và 4 căn nhà tình thương với số tiền hơn 1 tỉ đồng. Với những đóng góp của mình, Trần Đỗ Liêm nhiều năm liền được công nhận là chiến sĩ Thi đua cấp tỉnh, cấp bộ; được Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen, được Chủ tịch nước tặng 2 Huân chương Lao động hạng 2 và 3 và nhiều bằng khen của các cấp, cách ngành. Không những thế, anh còn là chủ của nhiều công trình khoa học đã được công nhận, trong đó phải kể đế công trình “Lợi dụng dòng chảy của sông do tác động của thủy triều để tiết kiệm nhiên liệu và tăng vận tốc của phương tiện”. 
                                                            ĐẬU VIẾT HƯƠNG.      


MỘT CHỮ


 

                       MỘT CHỮ                                                                                                                     

                                                              truyện ngắn   Đậu Viết Hương

 
    Người mà thằng Tý thích nhất, quý trọng nhất là ông Sáu. Và cũng chính nó lại là người không ưa ông Sáu vô số kể. 
    Nhiều lúc nó đưa mắt ngắm nhìn ông thật lâu. Nó cố phân biệt trong cái vóc dáng thấp đậm cùng với nước da rám nắng, nâu bóng lên đến tận khuôn mặt bành bạnh, ẩn chứa đôi mắt lúc nhân hậu, hiền từ, có lúc lạnh lùng, nghiêm khắc kia, ông Sáu nào là của nó? Phải chăng trên đời lại có hai ông Sáu nhập thành một? 
    Mười bốn, mười lăm tuổi đầu mà lúc nào ông Sáu cũng vẫn cứ coi nó như là con nít, kèm cặp nó hoài. Lỡ một câu chửi thề cũng bị ông Sáu trừng mắt, lại còn móc lò: "Cái xấu không ai dạy, sao con học nhanh quá vậy?" 
    Học! Mỗi lần nghe nhắc tới chuyện học, nó lại nhìn ông, hằn học. Ở cái trạm giao liên này, ông Sáu không là trạm trưởng cũng không phải trạm phó, chẳng là giao liên. Nghĩa là ông không có một chức danh nào cả. Ông chỉ là người ăn đậu, ở nhờ, làm ba chuyện lặt vặt. Chẳng hạn như nấu cơm, nấu nước, lo ba vụ mắm muối, giường sạp, vậy thôi. Thỉnh thoảng lúc kẹt người, ông cũng được giao đôi ba việc đại sự như đưa thư từ, tài liệu hoặc dẫn đường cho mấy anh cán bộ đi công tác lẻ. Vậy mà đối với nó, lúc nào ông cũng làm ra vẻ ta đây: "Tý! Từ rày về sau nhớ phải đi thưa, về gởi. Con còn nhỏ, phải ráng học ba cái lễ nghĩa chớ con đi chẳng ai biết, về chẳng ai hay". "Tý! Từ rày về sau hễ người lớn kêu phải dạ. Ai đáng bậc cha chú phải xưng cháu, xưng con, ai đáng bậc anh, chị phải xưng em cho lễ phép một chút. Con cứ tui tui hoài là không có được, nhớ chưa". Đến nỗi đang bữa cơm cũng bị rầy: "Ăn phải xem nồi, ngồi phải xem hướng". Nhiều lúc nó muốn bỏ quách cái trạm giao liên này mà đi. Khốn nỗi, nó cũng chẳng biết phải đi về đâu bây giờ. 
    Cha nó là du kích, hy sinh trong một trận chống càn lúc nó vừa lên 7 tuổi. Mẹ nó đi bước nữa rồi biệt tăm luôn. Nó sống với nội. Mười bốn tuổi, nó còn phải đi ở đợ chăn trâu. Đêm bộ đội về đánh bót Bà Thửa, nó vui như được đi trẩy hội. Nó dẫn đầu một đám nhóc choai mang vác giúp các chú bộ đội bao nhiêu là thứ chiến lợi phẩm. Bộ đội rút, nó về xin nội rồi lén trốn đi theo. Chú chỉ huy dựng cây súng trường vừa ngang vai nó bảo: "Cháu còn nhỏ quá chưa thể đi được. Cứ ở lại trạm giao liên này ráng ăn cho chóng lớn. Chú hứa hai năm sau sẽ về đón cháu". Nó không còn biết làm sao đành phải ở lại cái trạm giao liên này. 
    Nó cảm thấy mình có ích, được việc hơn ông Sáu nhiều. Công văn khẩn, thư hỏa tốc, vù một cái nó đã đưa đến những nơi cần đưa. Bộ đội hành quân, nó đi trước dò la động tĩnh, thấy êm mới quay lại dẫn đường. Chuyện gì được giao, nó cũng làm tròn, trót lọt. Nhiều lần được khen, nó lại nhìn ông Sáu như ngầm bảo: "Ở đây tui oai hơn ông nhiều". Vậy mà chú Tư Hầu trạm trưởng lại phán một câu xanh rờn: "Tý! Tao giao mày cho ông Sáu. Mọi chuyện nhất nhất phải nghe lời. Quân lịnh đó". Lịnh của ông Sáu nhiều cái thiệt oái ăm. "Tý! Chiều nay phải kiếm cho đủ ba bó củi nghe, lịnh đó". "Tý! Lịnh xách cho đầy hai lu nước, sao vơi thế này? Chấp hành thế hả?". "Tý! Đấm cho tía cái lưng. Sao hồi này tía nhức quá trời". "Tía lịnh hả?". "Ừa, lịnh đó, chấp hành nhanh lên. Ui cha! Nhức ơi là nhức". Chẳng biết lúc nào lịnh thiệt. Chẳng biết lịnh nào ổng đùa. Tất tật mọi chuyện đối với nó đều lịnh cả. Nhiều lúc vui đáo để. Lắm lịnh buồn cười đến vỡ bụng. Và, cũng không ít lịnh như dấm ớt, chua lòm, cay nồng cả mặt. 
    Dẫu vậy, riết rồi quen. Càng ngày nó càng cảm thấy thích ông Sáu, thương nữa. Đôi khi trong tâm hồn thơ trẻ của nó nhen nhóm ước mơ về một điều gì đó xa xôi nhưng thiêng liêng lắm. Mà điều đó chỉ toát ra từ ông Sáu.
    Ông Sáu thương nó nhất, nó biết. Nhưng nó không hiểu tại sao đã thương, ông Sáu lại thường hay nghiêm khắc với nó. Mấy lần nó không thuộc bài, ông còn đe đánh đòn. Vậy nhưng hễ nó bệnh, ông lại lo đến mất ăn, mất ngủ. Có bữa nó dầm mưa đi bắt cá, đêm về sốt hầm hập, li bì. Trong lúc mê man, nó cảm thấy trên trán mình mát lạnh. Lối chừng nửa đêm tỉnh giấc, nó thấy ông Sáu ngồi cạnh bên đang nhẹ nhàng chườm khăn cho nó. Thấy nó tỉnh, ông reo lên như một đứa trẻ: "Tý! Con tỉnh rồi hả? Trời ơi! Con làm tía lo hết hồn. Từ rày về sau nhớ đừng có đi như vậy nữa nghe". 
    Nó cảm động rơi nước mắt. Bởi lâu lắm rồi, ngoại trừ nội nó ra, nó chưa từng được đón nhận những tình cảm như vậy. Nó thầm khát khao, mơ ước, giá như ông Sáu chính là cha ruột của nó. Nó còn ước thêm, giá như sau mỗi câu yêu thương, quan tâm, săn sóc, ông Sáu đừng bao giờ kèm theo những lời giáo huấn "từ rày về sau không được thế này, đừng làm thế kia". Được vậy, đời nó sẽ hạnh phúc biết nhường nào. 
    Trong những ngày nó bệnh, ông Sáu tự tay nấu cháo, đút cho nó từng muỗng. Nó cảm cái tình đó lắm. Tự nhiên nước mắt của nó cứ rớt ra hoài. Giá như nó được nhõng nhẽo, được nũng nịu đòi ông Sáu phải thế này, thế kia. Tỉ như cháo sao mà nhạt, phải thêm vô mấy muỗng đường nữa kìa. Hoặc giả làm bộ như đắng mồm, đắng miệng, cháo đường ăn riết ngán, đòi cho được tô cháo cá lóc. Rồi nó mường tượng ông Sáu lầm lũi đi thả lưới, giăng câu. Cứ thế, nó ước hết điều này lại mơ đến chuyện nọ rồi ngủ thiếp đi trong mộng mị. Tỉnh dậy, nó ngửi thấy mùi cháo cá phảng phất. Ôi chao! Cái mùi hành phi nưng nức lỗ mũi. Mùi thịt con cá đồng luộc vừa chín tới, gỡ ra xào lại cho săn, chế vô chút nước mắm, chưa ăn đã thấy tê tê đầu lưỡi, ngọt thấu tận ruột gan. Nó đang mơ chăng? Tự tay véo vào đùi một cái rõ mạnh, nó thấy đau. Không! Nó không nằm mơ. Choàng mở mắt, nó đã thấy ông Sáu kề bên, trên tay là tô cháo cá đang bốc hơi nghi ngút. 
    Mấy ngày sau khỏi bệnh, nó thấy ông Sáu không đá động gì. Không lịnh nó đi kiếm củi, cũng chẳng bảo đi xách nước, chuyện công văn, giấy tờ, ông rốt ráo tự lo một mình. Không được làm việc gì, nó cảm thấy ngứa ngáy chân tay, bứt rứt không yên. Bỗng dưng nó thèm được nghe lịnh của ông Sáu quá trời. Lịnh gì cũng được, miễn là được nghe ông lịnh. Kể cả cái lịnh mà nó ghét cay, ghét đắng đến nỗi ghét luôn cả ông: "Tý! Đi vô học bài". 
    Nhỏ tới giờ, nó chưa từng được đi học. Nay buộc phải ê a đánh vần từng chữ, nó chịu không có thấu. Thói thường hễ chuyện gì không thích, có ép cũng bằng thừa. Nó học được chữ này lại quên mất chữ kia. Ráng cho vô tai này nó lại lén trốn sang tai nọ đi mất. Đã thế, có lần chú Tư Hầu còn dặn nó phải kêu ông Sáu bằng thầy. Ông Sáu mà thầy ư? Không! Không thể!. Dẫu nó cũng biết được mang máng rằng ông Sáu trước đây vốn là một ông giáo làng chuyên gõ đầu bọn trẻ. Một trái đạn pháo mồ côi của giặc rơi trúng giữa nhà, người thân của ông không còn một ai cả. Lang thang, phiêu bạt, ông dạt đến trạm giao liên này. Chú Tư Hầu, anh Chín Liêm và cô Út Thảo nhờ ông mà tính rành con số, đọc được cả nhựt trình. Nó chưa bao giờ thấy chú Tư gọi ông Sáu bằng thầy nhưng anh Chín Liêm và cô Út Thảo thỉnh thoảng có chuyện gì cần nhờ ông giải thích đều một điều thưa thầy, hai điều thưa thầy nghe có vẻ cung kính lắm. "Nhất tự vi sư, bán tự vi sư" gì nó không cần biết. Giải thích với nó cũng như không. Đừng nói tới một chữ, dù ông Sáu có dạy nó hàng trăm chữ đi nữa nó cũng không thể kêu ông Sáu bằng thầy. Bởi trong trí óc non trẻ của nó, ông thầy phải là một người cao lớn, đi giày da, đội nón két, xách cặp táp chớ đâu như ông Sáu chỉ mặc độc mỗi bộ bà ba đen lại còn đi chân đất. Vì thế, lời dặn của chú Tư Hầu, nó lờ đi, chưa bao giờ nó mở miệng kêu ông Sáu một tiếng thầy. 
    Một tuần nay thằng Tý mắc bám Lộ 4 nắm tình hình để đưa bộ đội vượt qua. Chỉ một tuần thôi, sao mà nó nhớ ông Sáu da diết. Càng nhớ bao nhiêu, nó càng cảm thấy có lỗi với ông Sáu bấy nhiêu. ở với các chú bộ đội, nó được các chú khen quá trời, nào ngoan ngoãn, lễ phép, nào chưa có ai nghe nó văng tục, chửi thề. Càng được khen bao nhiêu, nó càng tiếc bấy nhiêu. Giá nó chịu nghe lời ông Sáu chăm chỉ học chữ, giờ đưa ra khoe, chắc còn được các chú khen nhiều hơn nữa. Nó thầm nghĩ trong lòng lần này về nhất định sẽ cố gắng học hành đâu ra đấy. Học để sau này còn khoe với các chú, học để cho ông Sáu vui lòng.Sau khi hoàn thành nhiệm vụ đưa bộ đội vượt qua lô 4 an toàn, nó vội vàng quay ngay về cứ. Dọc đường, khi qua các toạ độ chết, nó không thèm canh giờ suýt chút nữa dính phải pháo bầy. Nó không dính nhưng lại gặp cô Út Thảo cũng trên đường đi công tác về bị dính pháo. Một miếng găm vào đùi, một miếng găm vào bên má làm cô Út Thảo không sao nói được. Gặp nó, cô Út Thảo mừng rối rít, ráng sức lấy tay ra hiệu cho nó. Hiểu ý, nó lấy từ túi dết của cô út một cuốn tập học trò và một cây viết chì. Cô Út Thảo ghi nguệch ngoạc vào đó mấy dòng trao cho nó rồi ngất xỉu.Thằng Tý xoay xoay tờ giấy trên tay nhưng không tài nào đánh vần nổi. Nó vò đầu bứt tai hết nhìn vào tờ giấy lại nhìn sang cô Út. Máu từ vết thương của cô Út Thảo vẫn ri rỉ. Mặc, phải cứu cô Út Thảo trước. Xé đôi chiếc khăn rằn, thằng Tý hì hục băng bó cho cô Út rồi ráng sức cõng cô về trạm quân y của huyện. Tới nơi, bàn giao cô Út Thảo xong, sực nhớ tới cuốn tập, nó nhờ một cô y tá đọc hộ. Trời đất như ngả nghiêng, hai tai nó ù đặc. Nó không thể nghe nhầm: "Cứ bị lộ, địch sắp càn, di chuyển ngay". Hôm qua tới giờ, lại thêm một buổi từ đây về cứ. Không kịp nghỉ ngơi và cũng không kịp chào cô y tá một tiếng, nó nháo nhào lao bắn đi như một mũi tên. Thằng Tý đứng như trời trồng. Cảnh tượng làm đôi mắt nó trừng lên như muốn rách toạc. Mấy cọc lán làm bằng thân trâm bầu vẫn âm ỉ cháy. Đồ đạc tung toé, lỏng chỏng mỗi thứ một nơi. Cạnh nền nhà, xác chú Tư Hầu nằm chúi về phía trước một tay bị đè ấp dưới ngực, một tay vươn về phía trước, bàn tay co quắp như còn nắm một vật gì. Dưới bếp, mâm cơm còn dang dở, lật nghiêng một bên. Cạnh đó, nhiều vết máu loang lổ đã đổi màu đen thẫm. Bầy ruồi thấy động vù vù bay lên rồi ngay tức khắc lại sà xuống. 
    Cổ họng thằng Tý nghẹn đắng. Nó lao tới bên mâm cơm nhìn quanh quất rồi không còn kìm giữ được, nó vươn cái cổ nghẹn đắng gào lên: "Tía! Tía ơi... ơ... ơi!" 
    Tiếng thằng Tý loãng ra chìm dần trong tiếng lá cây xào xạc. Vậy là ông Sáu đã bị chúng bắt đi rồi. Chợt mắt thằng Tý nhìn chăm chăm. Từng vệt máu nhỏ dần cách quãng về hướng sau vuông vườn. Lần theo vết máu, nó bật thốt lên: "Khu tử địa!". Mặc cho những cành cây đâm ngang bịt lối, nó cứ ráng bươn về phía trước. 

    Một vùng đất toang hoác, cây cối gãy đổ ngổn ngang ghìm bước chân thằng Tý lại. Nguyên một tiểu đội thám báo 11 tên, đứa sóng soài, đứa co quắp nằm rải rác bất động. Bước chân thằng Tý mỗi lúc một khuỵu dần. Ông Sáu nằm đó trong bộ bà ba đen rách nát. Đôi mắt ông mở to. Không còn vẻ lạnh lùng, nghiêm khắc cũng không đượm vẻ nhân hậu, hiền từ. Ánh mắt như toát lên một niềm kiêu hãnh. Đôi môi ông hé mở. Hình như trước lúc chết, ông đã nở một nụ cười. Nỗi ân hận trong lòng thằng Tý mỗi lúc một dâng cao. Nó quỳ thụp xuống chắp tay vái ông Sáu, đủ ba lạy. Xong, tưởng chừng như định đứng lên thì nó lại chồm tới gục vào người ông Sáu ôm chặt lấy thân hình bê bết máu của ông. Đôi vai gầy của nó rung lên nức nở. Và từ cổ họng khô đắng của nó chợt bật lên hai tiếng: "Thầy ơi!"


NỬA MÌNH




     

NỬA MÌNH

Nửa mình
tôi chỉ một mình.
Một mình
nhức nhói con tim nửa mình.
Nửa mình tôi ước cuộc tình.
Hai trái tim
hai nửa mình thành đôi.

                                                                                 


CÔ GÁI BÁN BÁNH MỲ

CÔ GÁI BÁN BÁNH MÌ
Truyện ngắn của Đậu Viết Hương.

    

    The cặm cụi vuốt những tờ giấy bạc hai trăm đồng, năm trăm đồng xếp thành một ngàn rồi xấp lại từng chục một. Đếm đi, đếm lại, The chợt mỉm cười sung sướng. Sau khi trừ tiền vốn, The lời hơn sáu chục ngàn đồng. Chưa bao giờ The kiếm được một số tiền lớn như vậy, trong ngày.
    Mai, The sẽ cố gắng chèo xa hơn nữa, nhà nào cũng ráng ghé vô, phải bán cho được 300 ổ. Chẳng cần nấu nước sốt, chẳng phải làm pa-tê, chẳng cần làm gì ráo trọi. Mì không! Khỏe ơi là khỏe. Chỉ có mệt khi chèo, ngược nước, gió to, mưa nữa. Mặc! Miễn sao phải bán cho kỳ hết 300 ổ. Mì lấy tại lò mỗi ổ sáu trăm rưỡi, bán ra một ngàn đồng. Thời buổi bây giờ, muốn lời hơn, họa chăng chỉ có đi buôn lậu.
    Nước mỗi ngày một dâng cao. Có nơi nhà cửa đã phải kê kích đến ba, bốn lần. Đứng trong nhà cứ phải cúi lom khom nếu không, đầu sẽ va vào nóc. Lửa kỵ nước, củi ướt nhèm, đun nấu gì được. Bánh mì là là số dzách. Nhiều người được cứu trợ thùng mì gói, cứ phải há mồm nhai cong cóc. The phát hiện được điều này hôm về thăm má. Bánh mì, gặp trời mưa gió, ẩm, mềm, dễ nhai, dễ nuốt. Giá bán mỗi ổ một ngàn, mắc thiệt, vẫn cứ phải mua. Mua xong, có người xót xa chửi đổng: “Mẹ quân gian thương, đục nước”.
    Lời chửi! Gió bay. The vẫn đều đặn chèo chống mỗi ngày, tối mịt mới về. Có hôm tưởng chừng hai cánh tay không phải của mình, rã rời. Những ngón tay tê cóng, nhức buốt lại cặm cụi vuốt, đếm từng tờ bạc lẻ nhàu nát, ẩm ướt.
    Hải vẫn nằm còng queo trên giường rên hừ hừ, nhăn nhó. The lại bên giường, đưa tay sờ vào trán chồng. Âm ấm chớ không nóng. The nhẹ nhàng hỏi: - Nhức lắm hả? Anh uống thuốc chưa?
    Hải không trả lời, hỏi lại: - Hôm nay được bao nhiêu?
    - Hơn trăm.
    - Còn thiếu bao nhiêu nữa?
    The thở dài ngước nhìn chồng với tâm trạng của một người có lỗi: - Anh ráng chịu đựng thêm chừng tháng nữa, chí ít cũng phải kiếm thêm vài triệu, còn tiền thuốc men, ăn uống.
    Hải chống tay ngồi dậy ôm lấy chân: - Nửa tháng kia à? Bác sĩ bảo…không khéo lại tiêu mất cái chân, thành thằng què.
    The nhẹ nhàng: - Để em lấy muối đắp chân cho anh, bớt sưng, bớt nhức lắm đó.
    Hải cố ghìm cơn đau: - Bớt mẹ gì, ba hột muối.
    Biết tính chồng, The lặng lẽ xuống bếp lấy muối. Giá mà có thằng cu Tý ở nhà, nó tè cho một bãi. Nước đái trẻ con xắp muối đắp vào chỗ sưng, bớt liền hà.
                                                      x     x
                                                         x
    The lấy chồng muộn, 29 tuổi mới gặp được Hải làm nghề chạy xe Honda ôm ở dốc cầu Long Định. Hải ít hơn The hai tuổi, nhưng đã có một đời vợ. Cô vợ trước trẻ, nghe đâu xinh lắm nhưng không chịu nỗi cảnh nghèo, một hai quyết ly dị, bỏ Hải lên thành phố bán quán càfé. Còn The, dân miệt đồng, tận trong ấp Chà Là, xã Phú Nhuận, vừa xấu, lại vừa đen. Hồi má bịnh, The đưa đi bệnh viện Cai Lậy, tình cờ quen Hải rồi nên vợ, nên chồng. The sanh thằng cu Tý, lưng vốn Hải giành dụm, bay vèo. Hội phụ nữ xã cho vay một triệu “xóa đói giảm nghèo”, The có chiếc xe bán bánh mì dưới dốc cầu Long Định. Tiền lời đủ để trang trải trong ngày và trả góp tiền vay của Hội. Còn mọi chuyện khác, phải trông chờ vào nghề chạy xe ôm của Hải. Cuộc đời The như vậy là đủ, khá lên chút đỉnh, càng tốt.
    Lam lũ từ nhỏ, cực khổ mấy The cũng chịu đựng được. Từ ngày lấy The, Hải đổi tính, hiền, bỏ luôn cả rượu và thuốc lá. Điều đó chứng tỏ Hải thương The nhiều lắm. Hạnh phúc của The, thử hỏi ai dám bảo hơn? Có lẽ vì vậy nên ông trời mới ghen! Ba tháng trước, đang ngon lành, mắt cá chân của Hải bỗng nổi một cục u rồi tấy sưng, nhức buốt. Lúc đầu Hải cố chịu đựng nhưng rồi không thể, đành phải nằm nhà. Bệnh của Hải, The chạy hết thầy, tiền mất, tật mang. Chiếc xe Honda cà tàng làm cần câu cơm của Hải bán đi, cúng thầy, bệnh vẫn hoàn bệnh. Hết nước, The đành đưa thằng cu Tý gởi về bên nội rồi đưa Hải vô bệnh viện. Ông bác sĩ khám cho Hải xong, rủa The te tua. The cúi đầu, cũng tại mình ngu dốt.
    Khối u ở mắt cá chân của Hải làm độc, phải mổ. Càng sớm, càng tốt. Nếu không, coi chừng phải tháo khớp bàn chân. Có khi còn phải cưa ngang ống quyển. The bàng hoàng, còn Hải thì rụng rời, thốt lên: - Chân chạy, cưa ngang ống quyển, thành thằng què, cuộc đời coi như vứt bỏ.
    Khốn nỗi, chi phí cho cuộc phẩu thuật chí ít cũng trên ba triệu đồng. Ba triệu! Lấy đâu ra bây giờ? Cơn lũ tràn về, mọi vật đều chìm trong biển nước. Đau thương, mất mát, thiệt hại không biết bao nhiêu mà kể. Trong nỗi đau của biết bao con người khốn khổ, tình cờ, The tìm được cho mình một lối thoát. Mỗi ngày, The lặn lội, chèo chống bán được 300 ổ bánh mì, nhẩm sơ cũng biết tiền lời một trăm lẻ năm ngàn đồng. The đem theo cơm trưa, nước uống, số tiền lời hầu như nguyên vẹn. Mắc rẻ gì, chuyện lụt lội có cái ăn người ta mang đến bán cho đã may, kỳ kèo nỗi gì, huống hồ ngày thường ổ bánh mì mua tám trăm, nay chỉ có một ngàn. Người mua thiệt vài trăm bạc lẻ, bỏ bèn gì. Nước ngập lưng nền, The bán mỗi ổ chín trăm. Nước lên vỗ ì oạp vào vách nhà, The nâng lên một ngàn một ổ. Cứ phải một ngàn, cái công The chèo chống, ngược nước, gió to. Thực tình thì The chỉ chăm chắm làm sao kiếm thiệt nhanh, đủ số tiền đưa Hải vô bệnh viện để mổ. Đắng cay nhiều, buồn tủi cũng không ít. Người ta mừng rỡ mua bánh mì The mang tới, rồi ngay sau đó khi The quay xuồng đi lại cong cớn chửi: “Cái thứ lưỡi lam, cái quân cắt cổ”. 
    Gió nào thổi bay? The nghe hết thảy! Nhưng, đành chịu vậy, chân của Hải, không thể què.                                                                
                                                              x   x
                                                                x
    Đám thanh niên đóng cọc cừ tràm, khiêng bao cát chắn dòng nước lũ, mình trần, độc mỗi quần đùi, tục không chịu được, The vẫn xáp vô. Không ăn, lấy sức đâu mà đóng. Một ổ thấm tháp gì, mỗi người chí ít cũng từ hai ổ trở lên. Hễ thấy chỗ nào đông người, The chèo xuồng đến. Có ngày, lưng lững trưa, The đã bán hết 300 ổ. Một chiều, The bán nhanh, tranh thủ về thăm má. Anh Hai chống lũ chưa về, chị Hai đi giăng câu, thả lưới, chỉ có má ở nhà với mấy đứa cháu.
    Má trệu trạo nhai ổ bánh mì, vừa nhai, vừa hỏi: - Thằng Hải sao rồi hả con? Liệu có phải…Khốn khổ, má nghèo, anh Hai con cũng nghèo, gặp phải bên nội thằng Tý cũng nghèo nốt. Giá mà con chạy vạy, mượn tạm của ai đó mổ cho sớm. Nó què, con lãnh trọn chó ai.
    The thở dài: - Hết cách rồi má ơi! Lụt lội kiểu nầy, ai dư mà vay hả má.
    - Vậy bây giờ con tính sao? 
    - Con cũng không biết nữa, phải ráng chớ biết làm sao bây giờ.
    Đang nhai, chợt má nuốt vội: - Con nhớ chèo chống cho cẩn thận, gió to, nước lớn, sểnh một chút là khốn đấy con ạ. Mà, con biết chuyện gì chưa?
    The ngẩng lên nhìn má chờ đợi: - Chuyện gì vậy má?
    - Khốn khổ, có chị gì ở trên thành phố xuống đây cứu trợ cho bà con nào ngờ lật xuồng, bị chết.
    - Thật vậy sao má? Xui xẻo dữ hôn.
    Má The ngừng nhai hẳn: - Dân mình bao đời vẫn thường “Lá lành đùm lá rách”. Tấm lòng rộng mở như vậy, bà Thủy không thương thì thôi, chớ bắt tội người ta làm gì. Hơn tháng nay, các nơi đổ dồn về nhiều không kể xiết, hết đoàn này tới đoàn nọ xuống cứu đói cho bà con. Nghĩ mà thương, nước mình năm nay chỗ nào cũng nghe nói bị thiên tai bão lụt. Bà con các nơi cũng đâu có khấm khá gì, vậy mà vẫn “Một miếng khi đói, bằng một gói khi no”, nhường cơm, sẻ áo. Lạy trời! Cầu cho họ, những tấm lòng vàng tai qua, nạn khỏi. Má chép miệng thở dài: - Nước đâu mà dồn về dữ vậy không biết, cuồn cuộn, mênh mông. Nhớ cẩn thận nghe con.
    The lặng người chợt thấy mắt mình cay cay, nhói đau nơi lồng ngực.
                                                           x   x
                                                             x
    Nước rút chậm, vườn tược, ruộng đồng vẫn còn mênh mông ngập chìm trong biển nước. Cái đói, cái nghèo len lén kéo nhau về rình rập, bủa giăng. The đi nhiều, con mắt không thể làm ngơ trước những cảnh đời nheo nhóc, cơ cực. Mà hoàn cảnh của The cũng đâu kém cạnh gì. Nước đổ dồn, gió thốc ngược, hai tay chèo của The rướn lên, kéo theo cái chân sắp bị què của Hải. Mười lăm ngày hứa với Hải đã trôi qua. Hải đau lắm, nhức lắm, sợ bị cưa giò nữa, làm sao The lại không biết. Làm vợ mà không lo được cho chồng trong lúc ốm đau, bệnh hoạn, The cảm thấy mình bất lực, có lỗi. Ngày mai, chắc có lẽ phải ráng thêm, bán cho được 400 ổ.
    - Bánh mì! Bánh mì!
    Đám thanh niên đóng cừ tràm mình trần trùng trục, hét tướng lên khi thấy xuồng The đến gần. Chắc đã đói mèm, The nghĩ. Nhìn họ ăn, The cảm thấy xót lòng. Công việc nặng nhọc thế kia, giá mà có thêm tí patê, mấy lát thịt.
    - Sao, hạ giá hả? Sợ bà Thủy rồi phải hôn?
    - Bánh cũ hả? Sao chỉ tính có tám trăm đồng?
    - Qủy tha, ma bắt các anh. Ăn vô trong miệng mà không biết. Bánh mới ra lò đó. 
                                                            x    x
                                                              x
    Cái chân của Hải sưng tấy lên tưởng chừng không thể sưng hơn được nữa. Chườm đá cho chồng mà nước mắt The giọt vắn, giọt dài. Chuyện má kể, The về kể lại cho Hải nghe. Nghe xong, coi bộ Hải xúc động lắm và, The không thấy Hải đả động gì tới chuyện tiền nong, cũng không nhắc tới chuyện phải đi vô bệnh viện mổ cho nó sớm. Không hỏi, nhưng The biết Hải vẫn hy vọng và chờ đợi ở The. Lòng The cảm thấy xốn xang, thương Hải qúa trời, không biết để vào đâu cho hết. Liệu, có nên kể tiếp cho Hải nghe chuyện sáng nay? Nghe rồi, liệu Hải có còn hy vọng? Nhưng chuyện vợ chồng, The giấu mãi được sao?
    Sáng nay, The cho xuồng ngược hướng Tân Hòa Thành. Vừa mới sáng tinh mơ, trên con đê 19/ 5 người đâu mà đông nườm nượp. Số The vậy mà còn hên. Đây là lần đầu tiên The nhận ở lò một lúc 400 ổ bánh. Sáng nay The đi vội, nên không chú ý mình đã gặp ai. Chỉ cần ở đây đến trưa, khỏi phải bơi đi đâu hết, The cặp xuồng vào chỗ đông đúc nhất. Lúc đó The mới biết đêm qua, đê 19/ 5 bị vỡ. Ôi chao! Chuyện nghe dễ sợ. Nhìn mực nước trong đê và ngoài đê chênh nhau cỡ khoảng 1,5 mét, The không khỏi giật mình. May mà hàn gắn kịp không thì, với mực nước chênh nhau như vậy, hàng ngàn héc-ta lúa, hoa màu, vườn tược, hàng ngàn hộ dân ở các xã Tân Hòa Thành, Phú Mỹ, Hưng Thạnh thuộc huyện Tân Phước; xã Tân Lý Đông, Tân Hội Đông thuộc huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang và các xã Lợi Bình Nhơn, Khánh Hậu thuộc tỉnh Long An sẽ bị ngập chìm trong biển nước. Chưa hết bàng hoàng, mắt The chợt nhìn thấy trên một gò cao gần đấy, một người nằm trùm mền, khói nhang nghi ngút. Bà Thủy lại bắt nhầm ai nữa đây? The mon men dò hỏi, một bà dì cho The biết: “Cậu Nhơn ở Tân Hòa Thành đấy cô ạ. Tội nghiệp! Đêm qua nếu không có cậu ấy và mấy người nữa, chắc giờ đây…” Dì không nói hết câu, đưa tay kéo vạt áo lên chậm nước mắt. “Cậu ấy đã lấy thân mình chống chọi với dòng nước lũ để cứu lấy sự sống cho hàng vạn con người”. The lặng người, cay xè con mắt.
    Con đê vẫn tiếp tục được gia cố. Những cái bụng hóp, những đôi mắt thâm quầng thỉnh thoảng liếc về chiếc xuồng của The. Họ đã làm việc cật lực từ đêm qua tới giờ. Mệt rã rời, nhưng họ vẫn cố gắng và hình như, họ đang chờ lệnh của một ai đó. The chợt cúi xuống xắn quần lêncao, xốc sọt bánh mì lên vai xen vào giữa dòng người. Giọng cô lanh lãnh:
    - Anh em, bà con cô bác ơi! Dừng tay ăn miếng bánh mì lót dạ.
    Chưa đầy nửa tiếng đồng hồ, 400 ổ bánh mì hết sạch. The lặng lẽ trở lại xuồng. Chợt một bàn tay vỗ nhẹ vào vai The:
    - Này cháu! Chú thay mặt bà con cảm ơn cháu nhiều. Hết bao nhiêu tiền, ít hôm nữa cháu lên Ủy ban nhân dân xã, cho chú thanh toán.
    The lí nhí: - Chú an tâm, chuyện đó cứ để sau này rồi hãy tính, chú ạ!...
    - The! Em đang nghĩ chuyện gì vậy?
    The giật mình, nhìn thấy đôi mắt Hải chờ đợi. Sau giây phút lưỡng lự, giọng The buồn buồn:
    - Đêm qua, đê 19/ 5 bị vỡ anh ạ. Anh Nhơn bên Tân Hòa Thành đã anh dũng hy sinh thân mình để cứu đê. Em…em…!
    - Thôi! Gịong Hải cắt ngang. Có chuyện gì, tối nằm kể cho anh nghe. Giờ, em cầm cái lon sữa bò qua bên nội.
    - Để làm gì vậy anh? - Bảo thằng cu Tý tè cho anh một ít. Nước đái trẻ con xắp với muối đắp vào hết sưng, hết nhức liền, em ạ.
    The xúc động đến lặng người.
    Nước lũ ở đâu bỗng dưng ùa về, ngập tràn trong đôi mắt The.

                                                                                                                  Đ.V.H


GỐC QUÊ

GOÁC QUEÂ

Ñaäu Vieát Höông 

       
     Meï thaãn thôø maân meâ chieác roå tre, roài taàn ngaàn lieác nhìn choàng roå nhöïa; caùi ñoû, caùi xanh, tím vaøng, to nhoû; ñau ñaùu moät thôøi long moát, long hai. 
Cheû- chuoát- caïp- nong.   
Ngôõ tuoåi gìa loùng nga, loùng ngoùng; böõa côm trôn tuoät maáy laàn; coïng rau  xaøo töôm môõ, ñoâi ñuõa nhöïa… laøm rôi!
Tre ñaâu roài, tre ôi!?
 
Deät thaûm xô döøa chuøi chaân xuaát sang xöù ngöôøi, ta nhaäp haït veà laøm taám chuøi chaân nhöïa; cuõng vaøng, cuõng ñoû…quaùng con maét mình. Cöù ngôõ laø hieän ñaïi-vaên minh. 
Chieác voõng se baèng beï chuoái khoâ; thaân luïc bình kheùo ñan gioû xaùch; coïng laùc deät hoa vaên…
 toan tính ñöôøng xa.  
Ta ru mình treân voõng nilon, chieáu nhöïa; tay ñung ñöa gioû xaùch ...hoïc laøm sang.
Daïi- khoân…! Bieát maáy ngaøy ñaøng!?
 
Bao nhieâu naêm sau xöông coát ta hoùa thaønh caùt buïi.
Raùc nhöïa- vaãn coøn nguyeân.
 
Meï thaãn thôø ra sau vöôøn tre, chaêm chaém nhìn, nghe… tieáng thôû daøi ñaùnh söôït.
 Chôït ñau quaën thaét ñaùy loøng.

Ñaâu roài! Goác queâ? 




LÁI XE CON

 
 

 

 

LÁI XE CON

 

Lái xe con! Ừ, thì cứ việc lái xe con. Có chuyện gì to tát lắm đâu mà cứ phải bàn. Ấy vậy mà, có chuyện đấy, tầm cở chuyện con voi chui lọt lỗ kim, tình tiết không kém phần gay cấn và hấp dẫn. Ông anh tôi là một cựu tài xế “lái xe con” nay đã về hưu, ngồi vuốt mấy cọng râu bạc loăn xoăn dưới cằm, khề khà bảo: - Chú mày chẳng biết cái đếch gì cả. Lái xe con là cả “một trời nghệ thuật” đấy.

- Ui chao! Lại còn thế nữa. “Một trời nghệ thuật ư!?”.

Đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, được đi học lái xe là một sự vinh hạnh, may mắn tuyệt vời. Ông anh tôi, tình nguyện đi bộ đội, lý lịch ba đời bần cố nông, lại có cái bằng cấp hai, mới được cái may mắn đó. Thế nhưng, học xong không phải đi lái xe con, mà lái xe bự. Toàn xe của các nước xã hội chủ nghĩa thời đó như: “Mô nô”, “Zin 57” của Trung Quốc; “Zin khơ 130” của Liên xô… và chạy trên những tuyến đường Trường Sơn đầy gập ghềnh, cheo leo, khúc khuỷu; dưới làn đạn bom, khói lửa, trong những năm tháng chiến tranh kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, ông chuyển ngành và bắt đầu sự nghiệp của một tài xế “lái xe con”.

Xe con thời kỳ đó hãy còn rất ít. Hầu như không có mấy xe của cá nhân. Lái xe con, chủ yếu là lái xe cho các sếp. Thì cũng chỉ là lái xe, có chuyện gì ghê gớm lắm đâu mà bảo là cả “một trời nghệ thuật”. Thực tình thì, những năm đầu sau giải phóng, mỗi lần anh em gặp nhau, có điều kiện hàn huyên, tâm sự, ông đã không ít lần kể về những năm tháng lái xe ở đường Trường Sơn với một niềm kiêu hãnh, tự hào. Nghe, sởn da gà, nhưng đó mới chính là cả “một trời nghệ thuật”. Nghệ thuật lái xe trên những đoạn đường ghập ghềnh, cheo leo; cua theo những cung đường vòng vèo, khúc khuỷu bên những bờ vực sâu hun hút. Nghệ thuật thắng gấp, phóng nhanh để tránh từng loạt đạn, bom từ trên máy bay phóng xuống; để vượt qua những cung đường tử thần, những tọa độ chết. Còn lái xe con, thời buổi thanh bình, có gì gọi là nghệ thuật!?

- Chú mày chẳng biết cái đếch gì cả.  Anh tôi lặp lại câu nói lúc nãy rồi tiếp tục rao giảng cho tôi biết thế nào là nghệ thuật, bắt đầu từ một câu tục ngữ: - “Khôn thì sống, vống thì chết” hoặc “Biết thì sống, không biết thì chết”. Biết! Tất cả mọi chuyện ở trên đời chung quy lại cũng nằm trong đó, gói gọn vào ba chữ thôi: “nghệ thuật sống”. Ngày xưa, người ta bảo: “cục đất lên xe cũng biết nói”, nhưng đó là thời buổi ngày xưa, lái xe tải, đi chiến trường. Cánh lái xe đi nhiều, biết rộng, lỗ tai quen nghe tiếng nổ của động cơ, nên thường ăn to, nói lớn. Còn bây giờ, lái xe con, miệng phải câm như hến. Hồi xưa, cánh lái xe thường  phải thực hiện ba không: đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng. Còn bây giờ, lái xe con, phải thực hiện bốn không, nhưng lại là: không biết, không thấy, không nghe, không nói. Nghệ thuật nó không nằm vào trình độ chuyên môn, kỷ năng, kinh nghiệm. Nó nằm trong nghệ thuật sống. Lái xe con cho sếp mà nghe nhiều quá, thấy nhiều quá, biết nhiều qúa, nói nhiều quá là về đuổi gà cho vợ. Chú bảo: Thợ may ăn vải! Mấy can xăng mà nhằm nhò gì, chỉ đủ cho café, thuốc lá.

Tôi lờ mờ hiểu anh tôi định nói những gì. Hơn chục năm lái xe chiến trường, anh tôi trở về với một chiếc ba lô xẹp lép và vài mảnh đạn còn nằm trong người. Lấy vợ muộn và cho ra lò một lúc bốn đứa con sàn sàn tuổi nhau, lương lái xe con và mấy can xăng “tiết kiệm” chỉ đủ đắp đổi cuộc sống hàng ngày, nên cuộc sống vô cùng nheo nhóc, cơ cực. Ấy vậy mà… nhờ vào cả “một trời nghệ thuật”.

- Thử hỏi chú cái cơ ngơi này từ đâu mà có? Mấy đứa cháu của chú ăn học thành tài, tiền ở đâu ra? Chú tưởng anh tham nhũng, ăn hối lộ ư? Anh thì đếch có chức vụ, quyền hành gì, chỉ là một tài xế lái xe con làm sao mà tham nhũng, ai thèm hối lộ.

“Một trời nghệ thuật” của anh tôi hay nói cách khác là “nghệ thuật sống” của một tài xế lái xe con, cho sếp. Nghe, lại sởn da gà, còn dựng thêm tóc gáy. Nhẩm tính sơ sơ, anh tôi đã từng lái xe cho ba, bốn đời thủ trưởng của một cơ quan cấp tỉnh. Sếp đi họp liên miên, xuống cơ sở, sang tỉnh bạn, ra đến tận Trung ương. Họp hành thường đi đôi với tiệc tùng, chiêu đãi. Lắm lúc hứng chí, các sếp lại rủ nhau đi tăng hai, tăng ba. Biết thôi nha, sống để bụng, chết mang theo và coi như không nhìn thấy gì hết, nếu không muốn phải về “hưu non”.

Một lần đưa sếp đi một tỉnh miền Trung dự họp, xứ của các loài thuỷ hải sản, anh tôi “mượn danh của sếp”, nói với tay Trưởng ban Tổ chức rằng thì là, sếp nhờ mua dùm mấy ký mực khô, tôm khô. Lúc đó còn bao cấp, thời ngăn sông, cấm chợ, đưa ra khỏi tỉnh dù chỉ là một ký tôm khô hay ký mực khô, thậm chí mươi ký gạo cũng phải được phép. Nhờ mua dùm, cũng chỉ tính kiếm chút đỉnh tiền lời thôi, ai dè, giọng của tay Trưởng ban Tổ chức xởi lỡi: “Lâu lâu mới có một lần, chút qùa mọn của tỉnh nhà, biếu sếp làm quà”. Nhưng, sếp nào có hay. Vậy là cưa đôi, sếp một nửa. Cứ vậy, làm hoài. Mà, sếp thì đi dự họp, liên miên.

Lái xe con, cho sếp! Phải là người thật đáng tin cậy, phải đảm bảo “an toàn tuyệt đối” về mọi mặt. Vậy sếp mới tin tưởng, mới thương. Sếp thương, nên dù chỉ là tài xế lái xe con, anh tôi cũng được phân nhà, cấp đất. Lái xe con là chúa biết nhiều chuyện, tuy không được nói ra, nhưng miếng đất nào ngon, toạ lạc nơi nào, để cho mình, thì anh tôi chẳng dại gì mà không nói ra. Lái xe con, đúng là không có chức vụ gì, nhưng nếu nói không có chút quyền hành gì, thì có lẽ chưa được đúng. Cũng chỉ mượn chút oai hùm thôi, nhưng mà khối người nể, sợ. Thỉnh thoảng, có người lại nhờ nói giúp cho vài tiếng, với sếp. Chừng đó thôi, cũng đủ, chỉ thua “cồng bà”.

Những ngày không lái xe con, chẳng hạn nhà sếp có công việc. Dù sếp không nhờ, nhưng phận em út đều tự nguyện đến nhà sếp lăng xăng, lo phụ việc. Kể ra hơi dài dòng, nhưng không hiểu sao nhà sếp nhiều đám thế không biết. Giỗ ông cố, ông cụ, đám hỏi, đám cưới, đám tang, đầy tháng, thôi nôi, sinh nhật, mừng thọ… lúc nào cũng lũ khủ mâm bàn. Có lần do thay đổi thực đơn, vợ sếp nhờ anh tôi đi lấy cho mấy ký tôm về làm món “tôm lăn bột”: - Xuống dưới chú Bảy, nói lấy cho chị Năm, ba thẻ, loại Ao nghe.

Chúa biết nhiều chuyện, nhưng đây là lần đầu anh tôi nghe “tôm ba thẻ, loại Ao”. “Lệnh ông thua cồng bà”, anh tôi vội lái xe đi. Xuống tới Kho đông lạnh Thuỷ sản, chú Bảy nghe anh tôi trình bày, chỉ hỏi: - Nhà anh Năm lại có tiệc hả? Rồi viết giấy ký ngoằng một chữ. Anh tôi lại biết thêm một chuyện, tôm thẻ là tôm bóc vỏ đông lạnh xuất khẩu, mỗi thẻ ba ký. Còn Ao là không có loại nào lớn hơn, cở 20 con một ký. Mấy tháng sau, anh tôi có người bạn thời Trường Sơn đến chơi, liều mượn lời chị Năm, nói với chú Bảy, để đãi bạn một chầu tôm thẻ, Ao. 

Lái xe con lương ba cọc, ba đồng; chẳng có chức vụ, quyền hành gì, nhưng có được cơ ngơi khang trang, đầy đủ như anh tôi, ai cũng thấy, nhưng không ai nói ra, vì không ai biết đó là cả “một trời nghệ thuật”. Cũng như các sếp, hầu hết sếp nào cũng đều có nhà cao cửa rộng, tiện nghi sinh hoạt sang trọng, đủ đầy, ai cũng thấy và biết rất rõ rằng, lương của sếp không nhiều hơn lương của tài xế lái xe con bao nhiêu. Lẽ dĩ nhiên, mọi người đều hiểu: “nghệ thuật sống” của sếp, bao giờ cũng siêu đẳng hơn tài xế lái xe con, cho sếp.

Giờ đây anh tôi không còn nữa. Mấy lần khấn vái xin phép trước vong linh của anh, tôi mới dám viết ra những dòng này. Dưới suối vàng, mong linh hồn anh lượng tình tha thứ cho đứa em không biết nghe lời anh làm nghề lái xe con, chỉ biết viết lăng nhăng và không biết thế nào là cả “một trời nghệ thuật”.

 

ANH ĐẬU

 


SỐNG ĐẸP

 

 

 

 

SỐNG ĐẸP

 

Sống đẹp thì phải chịu thiệt thòi. Khổ nỗi, ai cũng tự cho mình là sống đẹp, nhưng lại không muốn chịu sự thiệt thòi. Thành thử ở trên đời, có mấy ai sống đẹp!? Bởi muốn sống đẹp, không phải là chuyện dễ. Tất nhiên, cũng không phải là chuyện khó. Cho nên, chúng ta chớ vội bi quan, bởi đa số con người đều có tâm hướng thiện, thích sống đẹp, nên không đẹp nhiều thì cũng đẹp ít.

Đẹp ai cũng thích, bất cứ là cái gì. Thích “ăn ngon mặc đẹp”, thích “vợ đẹp con ngoan”; thích mình đẹp, nhà đẹp, xe đẹp, thậm chí thích những con vật nuôi trong nhà cũng thiệt đẹp, như thích con chó bông lông xù Nhật Bản chẳng hạn. Thích có nghĩa là ham muốn, còn ham muốn lại chính là dục vọng. Thích sống đẹp thì phải hạn chế dục vọng, chính vì vậy mới phải chịu sự thiệt thòi. Thói thường ở đời, thiệt thòi là điều không ai muốn.

Đẹp là một khái niệm trừu tượng, mỗi người có một cái nhìn khác nhau. Nhận xét, đánh giá vẽ đẹp của một cô gái, có người chỉ săm soi vẽ đẹp bên ngoài; có người lại chú trọng đến vẽ đẹp tâm hồn và tính cách của cô gái đó. Người nghèo được tặng căn nhà tình thương, nền lót gạch tàu, mái lợp tol che mưa che nắng, vui mừng cho rằng đó là căn nhà đẹp nhất mà mình có được. Còn dưới con mắt của anh nhà giàu, thì đó chỉ là một căn nhà tồi tàn. “Xanh vỏ đỏ lòng”, “Cái nết đánh chết cái đẹp”, ai cũng có cái lý của mình, duy chỉ có sống đẹp là bất biến.

Sống đẹp! Chưa có một định nghĩa nào cụ thể. Song có một điều không thể phủ nhận, sống đẹp là sống có đạo đức. Trong khi đó, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, bao gồm những nguyên tắc, chuẩn mực, định hướng giá trị được xã hội thừa nhận; có tác dụng chi phối, điều chỉnh hành vi của con người trong quan hệ với người khác và toàn xã hội. Sống có đạo đức phải thể hiện được ý thức đạo đức, hành vi đạo đức, quan hệ đạo đức. Không nhận thức được thiện, ác, tốt, xấu, lương tâm, trách nhiệm, hạnh phúc, công bằng… có nghĩa là chưa có ý thức đạo đức. Nhận thức được, nhưng không thể hiện được hành vi đạo đức, như: không làm việc thiện; bao che cho các ác, cái xấu; thiếu lương tâm, tinh thần trách nhiệm với cộng đồng, xã hội (quan hệ đạo đức) cũng có nghĩa là sống chưa đẹp. Tục ngữ Trung Quốc có câu: Không lấy bậy-tay thơm, không chơi bậy-thân thơm, không nói bậy-miệng thơm, không nghĩ bậy-tâm thơm. Đạo đức được đánh giá từ nhiều khía cạnh, không hoàn toàn bắt buộc, nhưng có những vấn đề cần bắt buộc. Chẳng hạn đối với nghề thầy thuốc thì đạo đức chính là y đức; ngành giáo dục thì đạo đức chính là tâm đức (lương tâm và trách nhiệm). Thể hiện được đạo đức của mình để có một cuộc sống đẹp là phải làm tròn bổn phận của mình đối với bản thân, gia đình, với mọi người, với cộng đồng, xã hội; phải hướng thiện trên tinh thần “mình vì mọi người”, đừng để “mọi người vì mình”, “việc thiện dù nhỏ mấy cũng làm; việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh”.

Có câu nói rằng: Đạo đức là một nghệ thuật về sự không thoả mãn những dục vọng, về việc phải: làm điều mình không thích, phải: không làm điều mình thích. Ở đời, ai không ham quyền cao chức trọng? Ai không ham bổng lộc, phú quí, giàu sang? Không kiềm chế được dục vọng, những ham muốn đó có thể dẫn con người đi đến những hành vi không trong sáng, thiếu đạo đức, thậm chí có khi còn sa vào tội lỗi. Trộm cắp, cướp giật; không phải của mình nhưng vẫn lấy, tìm mọi thủ đoạn, mưu mô, chước quỷ để chiếm cho bằng được làm của riêng cho mình là những hành động đê hèn, vô lương tâm, chứ đừng nói gì đến sống đẹp.

Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu đòi hỏi của con người ngày càng cao, từ “ăn no mặc ấm” đến “ăn ngon mặc đẹp”; từ làm việc sáu ngày một tuần, rút xuống chỉ còn năm ngày… . Nhu cầu càng đòi hỏi, càng thúc đẩy những ham muốn của dục vọng, sự đòi hỏi đã tác động không nhỏ đến vấn đề đạo đức. Bên cạnh đó, sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế, từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường (trước đó là từ cơ chế bao cấp chuyển sang cơ chế hạch toán) đã nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp. Kinh tế thị trường, một mặt là động lực thúc đẩy mọi người chủ động, năng động đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh để thu được nhiều lợi nhuận, nhiều lợi ích; mặt khác cũng kích thích chủ nghĩa cá nhân cực đoan, thực dụng, chạy theo lợi ích vật chất, bất chấp cả kỷ cương, đạo lý. Điều đó, đã tác động xấu vào quan niệm đạo đức của mỗi cá nhân và toàn xã hội. Một số người, do nhận thức không đầy đủ hoặc kém vững vàng trước những biến động đó, đã để cho chủ nghĩa cá nhân phát triển, xa rời những giá trị văn hoá, đạo đức, để cho chủ nghĩa thực dụng chi phối các hành vi đạo đức và cách ứng xử.

Luận bàn chuyện sống đẹp, không thể không đề cập đến một thực trạng đau lòng về sự suy thoái đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên hiện nay. Đó là những biểu hiện phai nhạt về lý tưởng cách mạng, lợi dụng vị trí lãnh đạo và quyền lực để mưu lợi, lo thu vén cho cá nhân, gia đình, họ tộc; coi nhẹ lợi ích tập thể, cộng đồng; chạy theo lợi ích vật chất trước mắt; coi nhẹ những giá trị thần cao đẹp, dẫn đến vi phạm tư cách đảng viên, trách nhiệm công dân. Nạn tham nhũng, đưa và nhận hối lộ, bòn rút, lãng phí của công… diễn ra ở nhiều ngành, nhiều địa phương, nhiều lĩnh vực trở thành “quốc nạn”. Nạn quan liêu, xa dân, lãnh đạm, thờ ơ, vô cảm trước những khó khăn, bức xúc; những yêu cầu đòi hỏi chính đáng của nhân dân; lối sống thiếu trung thực, cơ hội, “chạy chọt” vì lợi ích cá nhân, như chạy thành tích, bằng cấp, chức quyền, dự án, đề tài…, khá phổ biến. Khi bị phát hiện thì chạy tội, chạy án. Trong quan hệ với đồng chí, đồng nghiệp thì kèn cựa, ganh tỵ địa vị, gây mất đoàn kết nội bộ. Lời nói không đi đôi với việc làm, nói một đằng, làm một nẻo; nói nhiều làm ít. Chạy theo lối sống thực dụng, buông thả, hưởng thụ, thiếu lý tưởng, hoài bão, thiếu quyết tâm và ý chí phấn đấu. Đạo đức nghề nghiệp sa sút, ngay cả trong những lĩnh vực được xã hội tôn vinh, như: y tế, giáo dục, bảo vệ pháp luật, báo chí….Hiện tượng mê tín, dị đoan có chiều hướng lan rộng, ảnh hưởng xấu đến thuần phong, mỹ tục và trật tự, an toàn xã hội. Tính chất nghiêm trọng của sự suy thoái về đạo đức, lối sống, nhất là tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, cùng với những tiêu cực trong xã hội được Đại hội X của Đảng coi là: “một nguy cơ, thách thức lớn, liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ”.

Luận bàn về chuyện sống đẹp, không thể không nhắc đến câu nói bất hủ của Anh hùng Lê Mã Lương: “Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù”. Xả thân vì nước, hy sinh cả cuộc đời vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc là những cuộc đời đẹp nhất. Đó cũng chính là điều lý giải vì sao sống đẹp là phải chịu sự thiệt thòi. Tất nhiên, đã là người con đất Việt, là con cháu Lạc Hồng thì khi Tổ quốc cần, mỗi chúng ta đều sẵn sàng cống hiến, vì đó là bản chất, truyền thống. Cống hiến tất phải chịu thiệt thòi, thiệt thòi để có cuộc sống đẹp là việc nên làm. Như vậy, sống đẹp không khó, ăn thua ở ý chí, nghị lực phấn đấu của mỗi người. Nhận thức được vấn đề về ý thức đạo đức, thể hiện được hành vi đạo đức, làm tốt mối quan hệ đạo đức với mọi người, với cộng đồng, xã hội được coi là sống có đạo đức, có nghĩa là sống đẹp.

Trong một phạm vi hẹp, nói về công tác “Đền ơn đáp nghĩa”, Trưởng phòng Nội vụ-LĐTB&XH Cai Lậy, Lý Văn Cẩm nhận thức rằng: Các Anh hùng liệt sĩ đã xả thân vì nước, thì trách nhiệm của những người hôm nay phải phấn đấu xây dựng những thành quả mà các liệt sĩ đã hiến dâng cả cuộc đời xương máu để giành được. Anh quan niệm sống đẹp, cũng chính là để thể hiện tinh thần đền ơn, đáp nghĩa. Theo anh, sống đẹp là không ngừng nâng cao trình độ kiến thức, chuyên môn nghiệp vụ để làm tốt trách nhiệm và nhiệm vụ được giao, góp phần xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp đó chính là biểu hiện đền ơn, đáp nghĩa. Không hoàn thành nhiệm vụ, trách nhiệm được giao hoặc hoàn thành ở mức độ thấp; sống buông thả, quan liêu, bè phái, nhũng nhiễu, tiêu cực là những hành vi phụ nghĩa, vô ơn đối với những người đã anh dũng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, vì độc lập tự do của dân tộc. Vì vậy, hãy sống đẹp để thể hiện tinh thần đền ơn đáp nghĩa; sống đẹp để tưởng nhớ, ghi ơn những người đã giành cuộc sống tươi đẹp cho chúng ta hôm nay. Sống đẹp để cho cuộc đời đẹp hơn, cho xã hội bớt sự bất công, cho nông thôn gần thành thị, cho không còn sự phân hoá giàu nghèo, cho mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và cho đất nước ngày càng giàu đẹp, phồn vinh.

Sống đẹp là học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

 

ANH ĐẬU